Thơ ca ngợi Hai Bà Trưng
Tháng Mười 10, 2012 at 10:47 sáng Bình luận về bài viết này
Hai Bà Trưng là biểu tượng của tinh thần quật cường của dân tộc ta buổi đầu bị giặc Hán đô hộ .”Sử ghi tên chị là Trắc, tên em là Nhị, vốn con gái Lạc tướng ở Giao Châu ta, người huyện Mê Linh thuộc Phong Châu. Chị lấy Thi Sách người huyện Chu Diên. Thi Sách là người có dũng lược , chuộng hào khí.Thấy chừng cơ sự, quan Thứ sử là Tô Định bèn đặt vào phép, buộc tội Thi Sách mà hãm hại. Chị giận lắm, cùng với em cử binh đánh đuổi Tô Định , công hãm Giao Châu.Do đó các quận Nhật Nam Hợp Phố, Cửu Chân nghe tin bèn hưởng ứng, lược định được hơn 65 thành ở cõi Lĩnh Ngoại, tự lập làm vua đất Việt, đóng ở Chu Diên rồi xưng là họ Trưng” (Trích Việt điện u linh). Nhận định về Hai Bà, Sử gia Lê Văn Hưu viết : “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố ,cùng 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương” (Trích Đại Việt sử ký toàn thư). Thơ ca ngợi Hai Bà thì nhiều, ở đây, chỉ xin giới thiệu một số.
Phan Duy Kha sưu tầm và giới thiệu.
*
VỊNH HAI BÀ TRƯNG
Giúp dân dẹp loạn trả thù mình,
Chị rủ cùng em kết nghĩa binh.
Tô Ðịnh bay hồn vang một trận,
Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.
Mới dày bảo vị gia ơn trọng,
Ðã đội hoa quan xuống phúc lành.
Còn nước còn non còn miếu mạo,
Nữ trung đệ nhất đấng tài danh.
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
*
NHỊ TRƯNG MIẾU
Lục thập dư thành tận vọng phong,
Thùy tri nữ tử diệc anh hùng.
Đương thì khởi đặc bình Tô Định,
Mã Viện cơ phi “Quắc thước ông”
Đặng Minh Bích
Dịch thơ:
Hơn sáu mươi thành hết sức trông,
Ai hay nhi nữ cũng anh hùng.
Há riêng Tô Định tan thần xác,
Mã Viện chi còn “Quắc thước ông” !
Nhóm Lê Quí Đôn dịch.
*
BÀ TRƯNG
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận phường tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã đến gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi mà chống anh hùng được nao
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế cùng liều với sông
Phục Ba mới dựng cột đồng
Ải quan truyền đến biên công cõi ngoài
Trưng Vương vắng mặt còn ai
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.
Đại Nam quốc sử diễn ca.
*
VỊNH HAI BÀ TRƯNG
Cột đồng chìm chín suối,
Bia đá rọi nghìn thu.
Vì nước thương người khuất,
Xúm tay chỉ đứa thù.
Non sông tươi nét mặt,
Hào kiệt hổ chòm râu.
Ai biết, ai không biết,
Hồ Tây nước thẳm sâu.
Đặng Văn Bá.
*
VỊNH HAI BÀ TRƯNG
Trăm năm trong cõi người ta,
Khí thiêng chung đúc một nhà lạ thay.
Kìa xem sử Việt xưa nay,
Thoa quần mà cũng có ngày đế vương.
*
Giai nhân nan tái đắc (1)
Trong doanh hoàn dễ được mấy Trưng Vương.
Hội phong trần sinh ở xứ Đông Dương,
Vững gan sắt lấy cương thường làm trọng.
Quốc sĩ phu thù thiên bất cộng
Tỷ trinh muội liệt thế vô vong (2)
Đem phấn son thay lấy việc anh hùng,
Lưỡi thư kiếm chẳng dong phường khấu tặc.
Đuổi Tô Định thẳng về đất Bắc,
Rửa tanh hôi mà gánh các lấy non sông,
Làm gương cho khách quần hồng.
Nguyễn Ngô Đoan
Chú thích:
(1) Ý nói người đẹp khó mà có lại được.
(2) Nhục nước thù chồng thề không đội trời chung với giặc
Chị tiết trinh, em oanh liệt đời không bao giờ quên.
*
VỊNH BÀ TRƯNG
Phải đánh vì chưng giặc đến nhà
Xếp nghề kim chỉ giở can qua
Đền xong nghĩa cả, em cùng chị
Trả được thù chung, nước lẫn nhà
Một thuở Mê Linh, nền kiếm kích
Ngàn năm Lãng Bạc dấu hương hoa
Anh hùng sá kể câu thành bại
Quắc thước ra gì tướng Phục Ba.
Khuyết Danh
*
VỊNH TRƯNG VƯƠNG
Tượng đá trời Nam dãi tuyết sương
Ngàn năm công đức nhớ Trưng Vương
Tham tàn trách bởi quân gây biến
Oanh liệt khen cho gái dị thường
Liều với non sông đôi má phấn
Giành nhau nòi giống một da vàng
Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy
Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương.
Thái Xuyên
*
VỊNH BÀ TRƯNG
Nỡ để non sông tỏa khói mù
Ra tay vùng vẫy với thằng Tô
Chị cùng em, quyết nâng bầu huyết
Nước với nhà, chung trả mối thù
Sáu chục thành trì chia Hán Việt
Ba năm đường bệ cũng Thương Chu
Năm canh thức dậy hồn oanh liệt
Sóng dỡn Tây Hồ, bóng nguyệt thu.
*
Qua chốn Mê Linh viếng cựu đô
Giang san còn nhận dấu thơm tho
Ngọn cờ phất, sạch thù ông Sách
Lưỡi kiếm đưa, tan mật chú Tô
Há để bùn than nhơ vũ trụ
Quyết đem son phấn nhuộm dư đồ
Mày râu ướm hỏi quân luồn cúi
Khoát nước Hồ Tây rửa thẹn thò.
Song Ngư Nguyễn Tất Minh.
*
ĐỀ VỊNH TRƯNG VƯƠNG
Ngựa Gióng đã lên không
Rừng Thanh voi chửa lồng (1)
Nẩy chồi hoa nụ Lạc
Mở mặt nước non Hồng
Trăng rọi gương hồ Bạc
Mây tan dấu cột đồng
Nén hương lòng cố quốc
Xin nhắn một lời chung.
Hoàng Thúc Hội
(1):Chỉ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.
*
TƯỞNG NHỚ TRƯNG VƯƠNG
Tưởng nhớ ai xưa mãi đến giờ
Con dòng Lạc tướng luyện binh cơ
Thành Mê tuốt kiếm bêu đầu giặc
Sông Hát dồn quân hướng sắc cờ
Giao Chỉ ngọn triều lên cuồn cuộn
Phong Châu bóng liễu rủ lơ thơ
Đất Long Biên cũ, người đâu cũ
Cây cỏ bâng khuâng những đợi chờ ! . . .
Ngân Giang
*
TRƯNG NỮ VƯƠNG
Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm,
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi.
Ngang dọc non sông đường kiếm mã,
Huy hoàng cung điện nếp cân đai.
Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.
*
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ,
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai.
Hồn người chín suối cười an ủi,
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.
Lạc tướng quên đâu lời huyết hận,
Non Hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.
*
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi. . .
Ngân Giang.
Entry filed under: Uncategorized.