
Tôi chụp lại bài thơ Hoàng Nhuận Cầm chép vào sổ tay của tôi năm 1979, sau khi Cầm tham gia đội Đoàn viên xung kích Ngữ Văn Tổng hợp lên biên giới phía Bắc trở về. Lúc ấy, ngồi trong Tổ đại bàng - nơi trú ngụ của mấy thằng lính Quảng Trị sống sót, Cầm lúi húi vẽ minh họa và nắn nót viết tặng tôi cả bài. Nhìn thấy câu thơ có hai chữ “giặc tàu”, tôi hỏi lại: sao chữ TÀU không viết hoa ? Hỏi vậy nhưng cả hai cùng cười. Hiểu nhau thôi.
Chúng tôi học cùng một lớp đại học năm thứ nhất rồi trở thành lính sinh viên 6971 cùng đại đội, cùng một chiến trường. Năm thứ nhất, vừa ở quê ra tỉnh, nghe Phùng Huy Thịnh đọc “Ôi những cánh đồng quê chảy máu, Giây thép gai đâm nát trời chiều” là tôi run: thằng này viết được những câu như thế thì mình học sao lại được với nó đây... Tôi vẫn nghĩ đấy là thơ Thịnh viết, vì vậy nghe Cầm đọc thơ tôi không phục Cầm bằng Thịnh. Đã thế, Cầm còn đêm đêm khoác chăn đi lang thang trong ký túc xá nghêu ngao: "ta đi lang nới đâu có vàng có bạc hề…" làm nhiều người khó ngủ. Hát rất thiếu quan điểm, lập trường, tôi không phục. Cầm yêu thơ Ánh Hồng, tự nhận mình là em, với bút danh Ánh Biếc. Tưởng rằng Cầm chỉ yêu Thơ, nhưng rồi có hôm Cầm tâm sự: tớ yêu điện ảnh nhưng thi tuyển năng khiếu không đỗ. Giám khảo dốt. Tớ đã diễn một cảnh cầm phải bát nước nóng, rụt tay lại làm cái bát rơi vỡ tan trước hội đồng. Diễn hay thế mà họ quay mặt đi. Tớ vẫn thích làm phim hơn làm thơ, vì làm phim không bị cô đơn
Giấc mơ điện ảnh chưa thành Cầm đã phải từ giã giảng đường ra trận. Ngày huấn luyện bộ binh cùng đại đội ở Nhã Nam, Cầm nhiều lần lập công, kiếm ăn cho tiểu đội. Có lần tiểu đội thách Cầm đi "dân vận", kiếm cho được chiến lợi phẩm đem về. Chẳng để khích lâu, Cầm chờ chỉ huy sơ ý liền lẻn trốn khỏi đồi bạch đàn, tiến vào vào một lớp học cấp một. Thấy có chú bộ đội vào lớp, cô giáo ra hiệu cho lớp trưởng gõ thước kẻ thật to xuống mặt bàn cho cả lớp đứng lên chào. Cầm giơ bàn tay lên cao đáp lại (như kiểu bác Hồ chào nhân dân trong ảnh) rồi đến ghé tai cô giáo hỏi nhỏ: "Cô có ngô hay lạc gì đó bán không". Cô giáo trố mắt, nhìn anh bộ đội nhỏ thó từ đâu đến chân một lát rồi “à” một tiếng vỡ lẽ. Cô đi xuống cuối lớp hỏi mấy hàng ghế. Ngay tức khắc có mấy em được phép nghỉ học chạy về nhà. Mươi lăm phút sau, Cầm nhét lại tiền vào túi, ôm rá lạc góp, cám ơn cô giáo trở lại thao trường. Nhưng mươi phút sau, cô giáo lại thấy chú bộ đội nhỏ bé đó quay lại. Lớp trưởng theo lệnh cô giáo lại gõ thước cho cả lớp đứng dậy chào lần nữa. Cầm chào đáp lễ rồi ghé vào tai cô giáo thì thầm: “Cô có nồi rang không”. Lần này, cô giáo không ngạc nhiên nữa. Cô lệnh cho ba em về nhà kiếm nồi rang. Lát sau, chú bộ đội chọn luôn chiếc nồi xanh (bằng đồng) to nhất, rồi cũng không quên chào lần nữa kiểu chào bác Hồ cho tất cả các em.
Chờ cho chú bộ đội đã hưởng đủ tình quân dân cá nước, có thể đã xông ra chiến trường rồi, cô giáo ổn định trật tự, lệnh cho quản ca bắt nhịp hát vang bài Hoan hô chú bộ đội… Nhưng lớp chưa hét hết đoạn “Chú bắn Mỹ tài ghê, Tàu bay Mỹ đến đây chú bắn cho tan tành” thì có tiếng kêu to: Cháy nhà, khói quá !
Cô giáo chạy bổ ra ngoài, tìm nguyên nhân ngọn khói. Thì ra chú bộ đội chưa trở lại thao trường. Chú đã rút hết một góc mái gianh lớp học của cô, dồn được một ôm lớn, nhóm lửa rang lạc ngay bên chân lũy lớp học. Cô giáo nhìn chảo lạc một lát rồi quyết định cho lớp giải tán. Đằng nào thì vừa khói, vừa có mùi lạc cháy bay vào lớp, học trò không học nổi.
Bữa trưa hôm đó, ý tá đại đội rất lo: không hiểu vì sao tiểu đội của Hoàng Nhuận Cầm chỉ ăn hết nửa suất cơm.
Cầm sống hồn nhiên, và tôi nghĩ, thơ Cầm cũng không khỏi hồn nhiên. Hồn nhiên không theo nghĩa dễ dãi, mộc mạc. Đấy là cái hồn nhiên tự trong bản chất của thi ca, mà dân châu Âu gọi là “thơ sạch”, thơ thuần khiết, không dính bụi đời. Có lần đọc thơ Cầm được giải báo Văn Nghệ, thầy Lê Đình Kỵ cười, bình luận: để rồi xem, Cầm sẽ suốt đời là nhà thơ sinh viên thôi… Nghe Thầy Kỵ, chúng tôi nghi ngờ nhà phê bình tinh tế này đã khắt khe, khó tính, đã lấy model thơ Chế Lan Viên làm tiêu chí đánh giá thơ Hoàng Nhuận Cầm.
Quả là vào trận nhưng Cầm không thành nhà thơ chiến trận, không làm sử thi hay viết những anh hùng ca hoành tráng. Thơ Cầm chẳng cổ vũ được ai cầm súng. Vì Cầm sinh ra ở đời không để cầm súng mà chỉ để sống cho Thơ. Khi đọc câu thơ Cầm viết: thay cho bắt ve thuở bé nay ta “đuổi bắt quân thù quanh những gốc xà nu”, tôi phì cười. Chả ai đánh giặc thế bao giờ. Cầm chưa bao giờ làm lính bộ binh. Cầm là lính cao xạ. Nếu là lính bộ binh, Cầm không thể viết được những câu thơ hay đến thế, “sinh viên” đến thế. Mà nếu bị phiên vào đơn vị lính bộ binh, Cầm sẽ hy sinh sớm, mãi mãi tuổi 20 như Nguyễn Văn Thạc, đất nước này sẽ thiếu một nhà thơ.
Từ ngày Giáo sư Lê Đình Kỵ tiên đoán thơ Cầm, đất nước đã qua bao kỳ nóng lạnh, rồi theo vận nước, vận đời, Cầm cùng bao đồng nghiệp thi phú cũng ba chìm bảy nổi cùng thơ. Khi Cầm viết:
Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng ánh trăng rơi…
thì cũng là lúc đất nước này “thơ sinh viên” đã hết. Thời thơ ấy biết bao giờ trở lại ?
Có bao nhiêu kỷ niệm với Cầm. Lần gần nhất là đèo xe máy chở Cầm về từ Tòa soạn báo Nhân Dân. Cầm vội, nóng ruột vì mấy anh em đang phải chăm mẹ ốm ở nhà. Cầm kêu nhận duyệt phim nước ngoài rất mệt, phải xem mấy tiếng đòng hồ, buồn ngủ thiếp đi, mở mắt ra thì đã hết phim. Vì kiếm tiền, nuôi con, chăm mẹ nên cứ cố mở mắt xem có đoạn nào “chống cộng”, hay “nhạy cảm” quá không. Lúc nào Cầm cũng có cảm giác sống thiếu tiền.
Cầm ngồi chuyện ríu rít sau lưng. Tôi biết giấc mơ điện ảnh thuở nhỏ của Cầm đã được thực hiện. Lớp Văn Tổng hợp K15 chúng tôi đã xem nhiều phim Cầm. Tôi chia sẻ với Cầm điều đó. Nhưng hơi buồn là người Cầm khô, nhẹ quá. Tôi đèo xe máy chở Cầm như chở cuộn băng ghi âm của Đài phát thanh, chứ không có cảm giác đèo người. Cầm kể chuyện dài dài, nghe như tiếng ve ran.
Ai biết Cầm ra đi lặng lẽ thế.
Có lẽ từ nay nghe tiếng ve kêu lại nhớ Cầm.
Mạc Yên
Facebook Phạm Thành Hưng ngày 21-04-2021