Hà Nhân, người học-trò quê ở Thiên-trường (nay là phủ Xuân-trường thuộc tỉnh Nam-định), khoảng năm Thiệu-bình ngụ ở Kinh-sư để tòng học trường cụ Ức-trai (Nguyễn Trãi).
Mỗi buổi đi học, đường tất phải qua phường Khúc-giang. Trong phường có cái trại, gọi là trại Tây, dinh cơ cũ của quan Thái-sư triều Trần. Ngày ngày đi qua, sinh thường thấy hai người con gái đứng ở bên trong bức tường đổ nhí-nhoẻn cười đùa, hoặc hái những quả ngon, bẻ bông hoa đẹp mà ném cho sinh nữa. Lâu lâu như thế, sinh không làm ngơ được. Một hôm, mới đứng lại trò-chuyện lân-la. Hai người con gái tươi-cười bảo:
— Chúng em một người họ Liễu, tên gọi Nhu-nương, một người họ Đào, tên gọi Hồng-nương, nguyên là những tỳ-thiếp của quan Thái-sư. Từ ngày quan Thái-sư qua đời, chúng em vẫn phòng-thu khóa kín. Nay gặp tiết xuân tươi-đẹp, chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để khỏi hoài-phí mất xuân quang.
Sinh rủ-rê hai ả đến chơi chỗ trọ của mình, chuyện-trò đằm-thắm, chàng lả-lơi cợt-ghẹo, hai ả thẹn-thò nói rằng:
— Chúng em việc xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉn e mưa-gió nặng-nề, hoặc không kham nổi cho những tấm thân hoa mềm-yếu.
Sinh khuyên-lơn dịu-ngọt rồi cùng tắt đèn đi nằm. Lửa đượm hương nồng, ái-ân mười phần thỏa-nguyện. Trong lúc gối êm chăn ấm, sinh bảo hai nàng cùng làm thơ ngâm chơi. Nàng Liễu ngâm trước:
Dịch:
Nàng Đào cũng tục ngâm:
Dịch:
Sinh vỗ tay cả cười mà rằng:
- Tình-trạng trong chốn buồng xuân, tả đến như thế thì thật là diệu tuyệt. Lời hoa ý gấm, tôi khó lòng theo kịp hai nàng.
Sinh bèn lại tục ngâm:
Dịch:
Từ đó về sau, hai nàng cứ sớm đi tối đến, ngày nào cũng giống ngày nào. Sinh cho là sự kỳ-ngộ của đời mình, so với chuyện xưa, có thể sánh với Bùi Hàng và vượt hơn Tăng Nhụ[1].
Một buổi tối mưa dầm gió bấc, nhưng hai nàng vẩn đúng hẹn đến, khẽ bảo sinh rằng:
— Chúng em sợ lỗi hẹn nên phải cố đến, nhưng thân như cái én, có chịu nổi rét mướt đâu.
Sinh bèn kéo Liễu vào lòng mà ấp-ủ, đùa bảo rằng:
— Vẻ kiều-diệm của em Liễu thật là tột bậc, có thể xứng đáng với một câu thơ cổ: « Mỹ nhân nhan sắc đẹp như hoa ».
Đào lặng-lẽ cúi đầu, có dáng hổ-thẹn, rồi từ đấy luôn trong mấy hôm không đến.
Sinh hỏi Liễu:
— Em Đào mấy hôm nay có được khỏe không?
Liễu nói:
— Chị ấy vẫn khỏe chứ có làm sao đâu. Chỉ vì hôm nọ chàng khen em đẹp mà không nói gì đến chị ấy, nên chị ấy xấu-hổ không dám đến nữa.
Nhân đưa bài thơ của Đào gửi cho sinh:
Dịch:
Sinh đọc xong buồn-rầu lúc lâu, nhân làm bài thơ họa theo vần trên để đáp lại:
Dịch:
Đào được thơ, từ đấy mới đi lại như trước. Gặp đêm nguyên-tiêu (rầm tháng giêng), người ở kinh-thành kéo nhau đi chơi vui rầm-rập. Hai nàng mời sinh:
— Nhà chúng em chẳng xa-xăm gì mà chàng chưa hề bước chân đến, thật là đáng trách. Nay gặp lệnh-tiết, chúng em muốn mời chàng quá bộ lại chơi.
Sinh vui-vẻ bằng lòng ngay.
Khi đến trại Tây, qua mấy lần rào, quanh một đoạn tường, đi ước mấy chục trượng thì đến một cái ao sen; hết ao thì là một khu vườn, cây-cối xanh tươi, mùi hoa thơm ngát, nhưng ở dưới bóng đêm lờ-mờ, không nhận rõ được cây gì cả.
Hai nàng nhìn nhau nói:
— Nhà chúng ta chật-chội túi-múi, chi bằng bầy tiệc vui ngay ở trong vườn.
Rồi họ rải chiếu giát trúc, đốt đèn nhựa thông, bóc bánh lá hòe, rót rượu hạt hạnh, các món ăn trong tiệc đều là những món quý-trọng cả. Kế đó thấy những mỹ-nhân tự xưng là họ Vi, họ Lý, họ Mai, họ Dương, này chị họ Kim, kia cô họ Thạch lục-tục đến mừng và dự tiệc. Trời gần sáng, mọi người giải-tán, hai nàng cũng đưa sinh ra đến ngoài tường. Sinh về đến thư-phòng thì mặt trời đằng đông đã rạng.
Sau đó vài tháng, sinh tiếp được tin nhà gửi đến kinh-đô, nói cha mẹ ở nhà đã hỏi vợ cho, giục sinh nên về mau để làm lễ cưới. Sinh bối-rối quanh-co, lòng rất không nỡ, hai nàng đoán biết được tình ý, bảo sinh rằng:
— Bọn chúng em thân bồ vóc liễu, không thể cáng-đáng được việc tần-tảo ở gia-đình. Vả ngôi chủ-phụ trong nhà, tất phải là người trong nền-nếp trâm-anh, chúng em đâu dám chòi-mòi đến. Chỉ mong chàng sau buổi về quê, tình cũ sẽ vấn-vương không dứt, sớm dẹp lòng quyến-luyến hương-thổ để lại tính kế tìm hoa, sẽ xem cây liễu Hàn-Hoành, vẫn chờ đợi với những cành dài ngày xưa[2], cây đào Thôi-Hộ, vẫn chào đón với những hoa cười năm ngoái[3]. Xin chàng lưu ý, đừng vì ấp-yêu duyên mới mà phai lạt tình cũ, khiến chúng em thành những bông hoa vô chủ ở Giang-nam.
Nói rồi cùng nâng chén tiễn-biệt và mỗi người đọc một bài ca. Nàng Liễu ca trước rằng:
Dịch:
Đào cũng ca rằng: Dịch:
Nghe hát xong, sinh rưng-rưng đôi hàng nước mắt rồi cùng hai nàng từ-biệt.
Sinh về đến nhà thì hôn-kỳ đã do cha mẹ định sẵn. Sinh nói với cha mẹ rằng:
— Sinh con trai muốn cho có vợ, sinh con gái muốn cho có chồng, đó vẫn là lòng của cha mẹ mà cũng là phúc của gia-đình. Song con nghĩ mình dòng-dõi tấn thân, mà sự học-hành chưa thành-danh gì cả. Nếu nay có vợ, e không khỏi vui bề chăn gối mà lãng việc sách đèn. Chi bằng việc cưới xin hãy tạm hoãn, đợi khi con đường mây nhẹ gót, thỏa-nguyện bình-sinh, bấy giờ hãy tính đến, tưởng cũng chưa muộn.
Cha mẹ không nỡ trái ý sinh, việc cưới bèn đình hoãn lại.
Ở nhà chưa bao lâu, sinh vì tưởng nhớ hai nàng mà lúc nào cũng ủ-ê rầu-rĩ, bèn lại lên đường để tới kinh. Vừa đến trại Tây, đã thấy hai nàng đứng đón, tươi-cười hỏi:
— Lang-quân vừa cưới vợ, sao không hẵng ở nhà vầy-vui duyên mới, đã vội lên đường?
Sinh kể rõ nguyên-do, hai nàng đều nắc-nỏm khen rằng:
— Lang-quân thật là một người tín-nghĩa, không lỗi lời ước-hẹn tìm hoa.
— Bèn vì sinh sắm lễ, để lại đến trường cũ theo học.
Sinh tuy mượn tiếng du-học, nhưng bút-nghiên chí nản, son phấn tình nồng. Ngày nào mới buổi xuân-dương, thoắt đã trời đông tiết lạnh. Một hôm sinh ở ngoài về, thấy hai nàng mắt đều đẫm lệ. Sinh giật mình hỏi, hai nàng đều gượng lệ nói rằng:
— Chúng em không may đều mắc bệnh gió sương, khí xuân chưa về, mặt hoa dễ héo, hương hồn một mảnh, chưa biết rồi sẽ trôi-giạt đến nơi nào.
Sinh kinh-ngạc:
— Anh cùng với hai em, duyên không mối-lái, nghĩa kết keo-sơn. Cớ sao các em lại vội nói đến chuyện lìa tan, khiến anh lo sợ như là con chim sợ cung vậy!
Nàng Liễu nói:
— Ham vui ân-ái, ai ai chẳng lòng; nhưng số trời đã định, kỳ về đến nơi, biết làm sao được. Rồi đây cánh rã trong bùn, hương rơi mặt đất, ba xuân cảnh sắc, thú vui biết sẽ thuộc về đâu!
Sinh ngao-ngán buồn-rầu, không sao dứt được. Nàng Đào nói:
— Người sinh ở đời như cái hoa trên cây, tươi héo có kỳ, không thể nào gượng được dù trong chốc lát. Chỉ xin chàng từ đây bồi-dưỡng thân-thể, chăm-chỉ bút-nghiên, ghép liễu[6] thành công, xem hoa[7] thỏa-nguyện, thì chúng em dù vùi thân trong chỗ ngòi lạch cũng chẳng chút phàn-nàn.
Sinh nói:
— Vậy thế cái kỳ tan-tác còn chừng bao lâu nữa sẽ đến?
— Chỉ nội đêm nay thôi. Hễ lúc nào có trận giông-gió nổi lên là lúc chúng em thác hóa. Chàng nếu nghĩ tình ân-ái cũ, quá bộ đến trại Tây thăm-viếng, chúng em sẽ được ngậm cười mà về chốn suối vàng.
Sinh khóc mà rằng:
— Sự-thế cấp-bách như vậy, cũng chẳng biết làm sao được nữa, song anh ở đất khách quê người lưng không túi rỗng, biết lấy gì mà đắp-điếm cho hai em!
Hai nàng nói:
— Thân mệnh của chúng em lảo-lướt như tơ, mong-manh tựa lá. Sau khi thác hóa, đã có mây làm tán, có lốc (gió) làm xe, sương trắng làm ngọc đeo, cỏ xanh làm nệm rải, than-khóc đã oanh già thỏ-thẻ, viếng-thăm đã bướm héo vật-vờ, chôn-vùi có lớp rêu-phong, đưa tiễn có dòng nước chảy, khói tan gió bốc không phiền phải đắp-điếm gì cả.
Đoạn rồi mỗi người để đôi hài cườm lại tặng sinh và nói:
— Mất người còn chút của tin, gọi có vật này để tặng nhau trong lúc sinh-ly tử-biệt. Sau này khi chàng ướm thử, sẽ như là chúng em còn ấp-yêu ở dưới chân chàng.
Tối hôm ấy, quả nhiên hai nàng không đến. Khoảng gần nửa đêm, trời bỗng nổi cơn mưa gió dữ-dội, sinh đứng tựa lan-can, buồn-rầu ngơ-ngẩn như kẻ mất hồn. Nhân sang chơi nhà ông cụ già bên láng-giềng, kể-lể về câu chuyện ấy. Ông già nói:
— Ồ! cậu nói rõ chuyện chiêm-bao chửa! Cái dinh-cơ ấy từ khi quan Thái-sư mất đi, trải hơn 20 năm nay, đã thành một nơi hoang-quạnh. Mấy gian đền mốc, một người quét dọn cũng không có, làm gì có nhiều cô gái họ nọ, họ kia như cậu nói. Chẳng qua đó là những hạng gái lẳng-lơ dâm-đãng; nếu không thì là những u-hồn trệ-phách, hiện lên thành yêu-quỷ đó thôi.
Sáng hôm sau, ông già cùng sinh đến trại Tây. Chỉ thấy nếp nhà quạnh-hiu, vài ba cây đào liễu xơ-xác tơi-bời, lá trút đầy vườn, tơ vương khắp giậu.
Ông già trỏ bảo sinh rằng:
— Đây chả phải là nơi cậu đến chơi ư? Chị ả họ Kim, thì đây hoa Kim-tiền. Cô nàng họ Thạch, thì đây cây Thạch-lựu. Đến như họ Lý, họ Vi, họ Dương, họ Mai, cũng đều nhân tên hoa mà làm họ cả. Không ngờ mấy cây hoa ấy lại biến huyễn như thế được.
Sinh bấy giờ mới giật mình tỉnh-ngộ, tự nghĩ mình bấy lâu mê-mải, chỉ là đánh bạn với hồn hoa. Về đến nhà, sinh lấy những chiếc hài tặng ra xem, vừa cầm trên tay, mấy chiếc hài đã thành ra những cánh hoa, bay vèo lên trên không mất.
Sáng hôm sau, sinh đem cầm một cái áo, lấy tiền làm mâm cỗ bày cúng hai nàng; lại làm một bài văn tế như sau này:
Dịch:
Đêm hôm ấy, chàng chiêm-bao thấy hai nàng đến tạ rằng:
— Đội ơn lang-quân làm bài văn-tế viếng, khiến cho thanh-giá chúng em càng bội tăng lên. Cảm vì tình ấy, nên chúng em về đây bái-tạ.
Sinh muốn lưu lại, nhưng hai nàng vụt đã vụt bay lên trên không đi mất.
Than ôi, thanh lòng không bằng ít dục. Dục nếu yên lặng thì lòng trống-rỗng mà điều thiện sẽ vào, khí bằng-phẳng mà cái lý sẽ thắng, tà quỷ còn đến quấy-nhiễu làm sao được. Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật-dục, cho nên loài kia mới thừa cơ quyến-rũ. Nếu không thì những giống nguyệt-quái hoa yêu, mê-hoặc sao được mà chẳng phải thu-hình nép bóng ở trước Lương Công là một bậc chính-nhân[8]. Kẻ sĩ gánh cập đến học ở Trường-an, tưởng nên chăm-chỉ về học-nghiệp, tuy không dám mong đến được chỗ vô-dục nhưng giá gắng tiến được đến chỗ quả dục thì tốt lắm.